Hotline: 0912508550

Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội

 

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

BỆNH VIỆN THỰC HÀNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

 

1. Lịch sử phát triển các bệnh viện thực hành của Trường trước đây

Được thành lập năm 1902, Trường Đại học Y Hà Nội là một trường đại học lâu đời nhất trong các trường đại học hiện có của Việt Nam. Với bề dày lịch sử hơn 110 năm, với vị thế là một trong 16 trường đại học trọng điểm quốc gia, Trường đã và đang là một trung tâm đào tạo có uy tín tại Việt Nam và trong khu vực, đã và đang triển khai nhiều nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật y khoa tiên tiến, từ đó chuẩn hóa, nhân rộng và chuyển giao cho các tuyến.

Do đặc thù trong đào tạo y khoa là cần phải có bệnh viện thực hành nên ngay từ ngày đầu thành lập Trường, Bệnh viện thực hành đã được chú trọng xây dựng cùng với Trường tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Năm 1904, Bệnh viện Nhà Chung (Hôpitalde la Mission) của Hội Truyền giáo được chuyển thành Bệnh viện Bản xứ (Hôpitalindigène) và sau thành bệnh viện Bảo Hộ (Hôpital du Protectorat, mà người dân quen gọi là Nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt Đức) là cơ sở thực hành của sinh viên. Bệnh viện gồm hai khu: Khu phía Bắc đường là khu chính, khu phía Nam (nay là Bệnh viện Phụ Sản Trung ương) là nơi giảng dạy nữ hộ sinh và khoa Sản-Phụ. Ngày 1/4/1904, chính quyền Bảo hộ Bắc Kỳ chính thức trang bị cho Bệnh viện Bản xứ và ngày 13/10/1904 đã tổ chức lại bệnh viện trên cơ sở mới. Các khoa lâm sàng được đặt dưới quyền của bác sĩ Cognacq, Hiệu trưởng trường Y Đông Dương. Bác sĩ Le Roy des Barres được cử làm Giám đốc bệnh viện. Các giáo sư,giảng viên và sinh viên đảm nhiệm công tác tại bệnh viện.

Bệnh viện khi đó có 354 giường bệnh. Bệnh nhân của bệnh viện thực hành trước đây được chuyển sang bệnh viện Bảo Hộ. Năm 1905, trại phong Tế Trường được sáp nhập vào bệnh viện nhưng đến 1912 lại tách ra và sáp nhập vào hệ thống các trại phong. Năm 1928 xây dựng khu nhà mổ hiện đại.

Theo sắc lệnh ngày 30/8/1923, Bệnh viện Bảo Hộ trở thành bệnh viện thực hành của trường Y nên chức vụ giám đốc bắt buộc phải do một giáo sư của trường đảm nhiệm, tuy nhiên theo Nghị định ngày 17/12/1923 thì về mặt hành chính, bệnh viện Bảo hộ vẫn là bệnh viện chính của Nha Y tế Bắc Kỳ. Bệnh viện Bảo hộ khi đó gồm có các khoa:

  •               Khoa Ngoại;
  •                 Khoa Sản-Phụ;
  •                 Khoa Nội;
  •                 Khoa Nội Nhi;
  •                 Khoa bệnh Ngoài da và Hoa liễu;
  •                 Khoa bệnh Tâm thần; 
  •                 Khoa Ung thư;
  •                 Khoa dành cho phạm nhân; 
  •                 Khoa Điện quang và Điện trị liệu; 
  •                 Khoa Xét nghiệm Vi sinh; 
  •                 Khoa Dược và Khoa xét nghiệm Hoá sinh;
  •                 Khoa Khám bệnh đa khoa.

Bệnh viện Bảo Hộ sau này đã dần dần được phân thành 3 khu, trong đó khu chính chuyển thành chuyên ngoại khoa. Tổng số giường bệnh cho các khu đếnnăm 1931 như sau: 

-    Khu chính Bệnh viện Bảo hộ (nay là Bệnh viện Việt Đức): 583 giường; 

  •  

 

  •  

Khu cách ly này từ năm 1913 đến năm 1932 mở rộng dần thêm thành Bệnh viện René Robin, hoàn chỉnh vào khoảng năm 1940-1941 mà người dân lúc đó thường gọi bằng một tên đơn giản là Nhà thương Cống Vọng. Thời đó Bệnh viện này được nằm khá biệt lập so với khu đông dân nên được chọn là khu cách ly. Bênh viện được thiết kế khá hiện đại, thanh thoát, với các khu nhà có tính cách ly cao khác với kiểu “nhà thuộc địa” của nhà thương Bảo Hộ. Khu nhà tròn đang được xây dựng thành khu phẫu thuật thì phải bỏ dở vì chiến tranh thế giới thứ hai. Tuyến đường xe điện Yên phụ - Kim Liên có điểm kết thúc ngay trước cổng bệnh viện,rất tiện cho di chuyển bệnh nhân trong thành phố giữa các bệnh viện.

Ngoài ra Bệnh viện Mắt và Bệnh viện Tâm thần Vôi (Bắc Giang) cũng được đặt trực thuộc Trường.

Như vậy, mô hình bệnh viện thực hành của Trường Đại học Y Hà Nội đã được bắt nguồn ngay từ 1904 và duy trì liên tục qua cuộc kháng chiến chống Pháp,ngay trong những điều kiện rất gian khổ và thiếu thốn. Tuy nhiên đến năm 1955 Bộ Y tế đã có quyết định chuyển các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức và Phụ Sản Trung ương trở thành các bệnh viện trực thuộc Bộ và từ đó đến nay các bệnh viện này đã không còn trực thuộc Trường như trước đây. Mặc dù các cán bộ giảng dạy và sinh viên của Trường vẫn được tham gia khám chữa bệnh và thực hành tại các bệnh viện này nhưng do không còn là Bệnh viện trực thuộc Trường nên khả năng ứng dụng khoa học, kỹ thuật mới của thày, trò Trường Y bị hạn chế và Trường cũng không còn quyền quyết định sự phát triển của các bệnh viện này cho phù hợp với sự phát triển của hệ thống đào tạo của Trường.

 

 

 

2. Thực trạng và nhu cầu cần có bệnh viện thực hành của các trường đại học Y trong các giai đoạn lịch sử khác nhau.

Bảng dưới đây trình bày thay đổi nhu cầu học tập, thực hành, nghiên cứu và chia sẻ thông tin của các cán bộ y tế nói chung và của sinh viên y nói riêng trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông tin và internet.

 

Bảng: Nhu cầu học tập, thực hành và nghiên cứu của cán bộ y tế nói chung và sinh viên y khoa nói riêng trước đây và hiện nay

 

Loại nhu cầu

Trước đây

Hiện nay

Lý do

I/ Về nội dung học tập

 

 

 

  1. Cập nhật và nâng cao kiến thức chuyên môn

++

+++

Do kiến thức chuyên môn phát triển ngày càng nhanh

  1. Nâng cao kỹ năng thăm khám lâm sàng (hỏi bệnh, nhìn, sờ, gõ, nghe)

++++

++

Do trước đây hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng là phương tiện chẩn đoán chính, còn hiện nay đã có nhiều phương pháp, kỹ thuật hỗ trợ chẩn đoán chính xác và điều trị có hiệu quả hơn;

  1. Nâng cao kiến thức, kỹ năng áp dụng các phương pháp, kỹ thuật mới hỗ trợ cho chẩn đoán và điều trị bệnh

+

++++

II/ Kỹ năng ra quyết định

   

 

  1. Chẩn đoán, điều trị bệnh dựa vào kinh nghiệm mà người thày thuốc tích lũy hàng ngày

++++

++

Do trước đây có ít phương pháp, kỹ thuật hỗ trợ chẩn đoán nên kinh nghiệm của người thày thuốc rất quan trọng, còn ngày nay đã có nhiều phương pháp hỗ trợ tìm kiếm, thu thập và cung cấp bằng chứng,

Y học là môn khoa học tương đối nên rất cần bằng chứng để ra quyết định.

  1. Chẩn đoán, điều trị dựa vào bằng chứng thu được từ:
    • Các kết quả XN chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng
    • Các nghiên cứu của chính bản thân người thày thuốc đó,
    • Nghiên cứu tương tự của các tác giả trong và ngoài nước.

+

++++

III/ Kỹ năng tham khảo tài liệu

   

 

  1. Tham khảo tài liệu tại thư viện

++++

+

Do internet phát triển rất mạnh và hầu hết các sách, báo trong thư viện có thể tìm thấy trên mạng;

Đọc tài liệu trên mạng thuận lợi và rẻ tiền hơn nhiều so với đọc tại thư viện;

Hiện có nhiều phần mềm hỗ trợ tham khảo, lưu giữ và trích dẫn tài liệu.

  1. Tham khảo tài liệu trên internet

-

++++

IV/ Kỹ năng học từ xa, qua mạng

   
  1. Đăng ký tham dự các khóa học tập trung

+++

++

  1. Đăng ký tham dự các khóa học trực tuyến, qua mạng

-

++++

  1. Tăng cường khả năng chia sẻ thông tin, tự học qua internet

-

++++

V/ Kỹ năng NCKH

   

 

  1. Số lượng nghiên cứu khoa học

++

++++

Từ khi có sự hỗ trợ của máy tính, phần mềm phân tích số liệu, tham khảo tài liệu, internet thì NCKH trở nên thuận lợi, dễ dàng hơn và có chất lượng hơn (do học hỏi dễ hơn và có nhiều phương pháp NC chính xác hơn (Systematic Review, Meta-Analysis...)

  1. Loại thiết kế NCKH

++

++++

  1. Chất lượng NCKH

++

+++

  1. Mức độ tiện lợi khi làm NCKH

++

+++

VI/ Hỗ trợ từ xa

   

 

  1. Tư vấn trực tiếp, qua điện thoại

+++

++

Do sự phát triển của internet, các phương tiên khoa học kỹ thuật liên quan đến tư vấn, hội chẩn qua mạng

  1. Tư vấn, hội chẩn qua mạng

-

++

  1. Telemedicine

-

++

 

Bảng trên cho thấy mặc dù nhu cầu và cơ hội học tập của cán bộ y tế đã thay đổi rất đáng kể với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và internet, nhưng thực hành bệnh viện vẫn rất cần thiết, nhất là tại các bệnh viện có các trang thiết bị hiện đại và các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán và điều trị tiên tiến.

Sự thay đổi này đã chỉ ra rằng trước đây khi thực tập lâm sàng chỉ đơn thuần là hỏi bệnh kết hợp với khám lâm sàng như nhìn, sờ, gõ, nghe... thì sinh viên y khoa dễ dàng có được cơ hội học tập tại các bệnh viện không phải của Trường (do chủ yếu là tiếp xúc với người bệnh), nhưng ngày nay khi sinh viên muốn thực hành lâm sàng tốt thì cần phải tiếp cận cả với các máy móc trang thiết bị y khoa tiên tiến tại các bệnh viện và điều này hiện tại không hoàn toàn dễ dàng nhất là khi các bệnh viện đã được trao quyền tự chủ tài chính (theo tinh thần Nghị định 43/2006/NĐ-CP ban hành ngày 25 tháng 4 năm 2006) và bệnh nhân đã phải đóng viện phí.

 

3. Lịch sử hình thành và phát triển Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Như phần trên đã trình bày thì từ 1955 Trường Đại học Y Hà Nội không còn có các bệnh viện thực hành riêng như trước đây, do Bộ Y tế đã chuyển các bệnh viện này (Bạch Mai, Việt Đức và Phụ Sản Trung ương) về trực thuộc Bộ, tuy nhiên theo nhu cầu phát triển và sự nỗ lực của Lãnh đạo Trường Đại học Y Hà Nội nên vào năm 2007 Bộ Y tế đã đồng ý cho Trường thành lập một bệnh viện thực hành mới trực thuộc Trường và nằm trong khuôn viên của Trường. Bệnh viện được thành lập theo Quyết định số 137/QĐ-BYT ngày 16 tháng 1 năm 2007 do Bộ trưởng Bộ Y tế ký và được mang tên là Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (xem Quyết định ở cuối trang).

Do đây là bệnh viện đầu tiên của Trường được thành lập sau 1955 trong bối cảnh có nhiều khó khăn nên Ban Giám hiệu Trường đã quyết định cử một số đồng chí trong Ban Giám hiệu sang kiêm nhiệm làm Giám đốc và Phó Giám đốc Bệnh viện và nhiều cán bộ các Phòng, Ban, Bộ môn của Trường cũng được huy động sang để tham gia quản lý, điều hành và sớm đưa Bệnh viện vào hoạt động. Mặc dù Quyết định thành lập Bệnh viện được ban hành tháng 1/2007, nhưng do cần thời gian để thành lập bộ máy tổ chức, quản lý, chuyên môn và cũng cần có thời gian để chuyển đổi công năng tòa nhà A2 từ chức năng nhà đào tạo kỹ năng tiền lâm sàng cho sinh viên sang chức năng bệnh viện nên đến tháng 9/2007 Bệnh viện mới mở cửa để đón bệnh nhân và sau gần 1 năm vận hành, điều chỉnh, chuẩn hóa mô hình tổ chức, chuẩn hóa nhân viên, đến tháng 8/2008 Bệnh viện mới chính thức khai trương đi vào hoạt động.

Tin liên quan

Sản Phẩm Chăm Sóc Sức Khỏe

Dịch vụ

Nhận thông báo

Liên hệ

  - Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặt hẹn khám chuyên khoa sâu và điều trị các ca bệnh nặng về ung thư, thần kinh, tim mạch, chấn thương chỉnh hình, các bệnh về máu, đặt hẹn phẫu thuật, điều trị tại các bệnh viện tại Hà Nội và các tỉnh miền Bắc ..v..v..

 - Dịch vụ khám chữa bệnh tại nước ngoài. ( Miễn phí dịch vụ phiên dịch )

   Hotline: 0912.50.85.50

  benhvienvietnam@gmail.com

  Website: benhvietvietnam.com.vn

* Website đang trong quá trình xây dựng và đang tiếp tục cập nhật thông tin